Nguyên nhân viêm khớp

Viêm khớp dạng thấp là một bệnh thường gặp nhất trong cắc bệnh khớp. Viêm khớp dạng thấp còn có nhiều tên gọi là: thấp khớp teo đét, viêm đa khớp dạng thấp, viêm đa khớp mạn tính tiến triển, thấp khớp mạn tính dính và biến dạng, viêm đa khớp nhiễm khuẩn không đặc hiệu…

Ở Việt Nam, Hội nghị toàn quốc lần thứ 2 về các bệnh thấp khớp học tại Đà Lạt tháng 3/1996 đã thống nhất tên gọi viêm khớp dạng thấp trong toàn quốc và được sử dụng chính thức trong giảng dạy tại các trường đại học y khoa.

Bệnh được gọi là viêm khớp dạng thấp để phân biệt với các bệnh khớp khác như thấp khớp cấp, viêm khớp mạn tính, thấp khớp phân ứng…

Xem thêm: Cứng khớp – triệu chứng không thể coi thường

Tỉ lệ mác bênh cao, từ 0,05 I 3%- số người mới mắc bệnh hàng nỉtm khoảng từ 25 1 30 người/100.000 dân/nãm. Ở Việt Nam, tỷ lệ chung trong nhân dãn là 0,5%, chiếm 20% sô’ bệnh nhân mắc bệnh khớp điều trị ở bệnh viện. Khoảng 50% bệnh nhân bị ảnh hưởng chức năng nặng nề và bị giảm tuổi thọ.

Bệnh thường gặp ở nữ, tỷ lệ nữ/nam là 3/1. Thường gặp phụ nữ tuổi trung niên (70 – 80%), tuổi trên 30 gặp nhiều (6o 70%).

viêm khớp

Tác nhân gây bệnh:

Nguyên nhân của bệnh hiện còn chưa rõ, tuy nhiên bệnh được coi như là một bệnh tự miễn khá quan trọng và điển hình ở người. Có thể do một loại virus khu trú ở tế bào lympho, chúng có khả năng làm rốì loạn quá trình tổng hợp globulin miễn dịch.

Yếu tố cơ địa\ Bệnh có liên quan rõ rệt đến giới tính và lứa tuổi.

Yếu tố di truyền: Các nhà nghiên cứu nhận thấy bệnh có tính chất gia đình.

Các yểu tố thuận lợi khác: đó là những yếu tố phát động bệnh như suy yếu, mệt mỏi, bệnh truyền nhiễm, lạnh và ẩm kéo dài…

Xem thêm: Những cách trị gai khớp gối hiệu quả cần biết

Triệu chứng:

Đa số trường hợp bắt đầu chậm rồi từ từ tăng dần, nhưng có khoảng 15% bất đẩu đột ngột với các đấu hiệu cấp tính. Trước khi các dấu hiệu khớp xuất hiện, bệnh nhân có thể có các dấu hiệu như sổt nhẹ, mệt mỏi, gầy sút, tê các đầu chi, ra nhiều mồ hôi, rối loạn vận mạch.

  • Giai đoạn khởi phát:

Bắt đầu bị viêm ở một khớp, thường là khớp cổ tay, khớp bàn tay, khớp ngón tay, khớp gối, khớp cổ chân…

Tính chất viêm:

sưng đau rõ, ngón tay thường có hình thoi, có dấu hiệu cứng khớp buổi sáng.

Bệnh diên biến kéo dài từ vài tuần đến vài tháng rồi chuyển sang giai đoạn toàn phát.

  • Giai đoạn toàn phát.

Viêm ở nhiều khớp: bàn tay (90%), khớp bàn ngón (70%), bàn chân (70%), cổ tay (90%), khớp ngón gần (80%), cổ chân (70%), khớp gối (90%), khớp khuỷu (60%), ngón chân (60%).

Các khớp háng, cột sống, hàm, ức đòn đều hiếm gặp và thường xuất hiện muộn.

Tính chất viêm:

Đối xứng (95%). Thường viêm ở hai khớp đối xứng nhau như ở hai đầu gối, hai ngón tay cùng vị trí ở hai bàn tay.

Mu bàn tay sưng hơn lòng bàn tay.

Xem thêm: Các món ăn và bài thuốc bổ giúp mạnh gân cốt 

Sưng đau, vận động khó khăn, ít nóng đỏ, có thể có nước ở khớp gối.

Có dấu hiệu cứng khớp buổi sáng (90%).

Đau tăng nhiều về đêm (nhất là lúc gần sáng).

Các ngón tay có hình thoi (nhất là các ngón 2, 3, 4).

Các khớp viêm tiến triển tăng dần và nặng dần, phát triển thành tình trạng dính và biến dạng khớp với nhiều di chứng khác nhau như: các ngón tay có hình thoi, hình cổ cò (nhất là các ngón 2, 3, 4), cổ tay hình lưng lạc đà, khớp gối dính ở tư thế nửa co…

 

Leave a Reply